MỘT SỐ MẨU CHUYỆN VUI VỀ CÁC “ÔNG TÂY” Ở ITIMS
Hầu như cứ hàng năm một lần, nhóm kỹ thuật viên Hà Lan lại hẹn nhau tại ITIMS để tiếp tục hoàn thiện và bảo dưỡng phòng sạch và các cơ sở hạ tầng khác. Họ thực sự là động lực quan trọng trong lịch sử phát triển cơ sở hạ tầng của ITIMS. Vào những đợt đó, từ các kỹ thuật viên ITIMS, các cán bộ cho đến BGĐ đều căng ra cùng họ trong mấy tuần liền. Cứ hỏi bạn gái anh Toán xem lúc nào nàng buồn nhất trong năm thì tôi tin chắc rằng thời kỳ đó trùng với đợt làm việc của các ông Tây. Họ làm việc mệt mài trong cái nóng mùa hè, cái ngột ngạt của phòng sạch và sự thiếu thốn về dụng cụ. Tuy nhiên, những đóng góp to lớn của họ đối với ITIMS không phải là chủ đề chính của bài viết này, vì chỉ cần thăm quan một vòng qua các phòng thí nghiệm hiện đại của toà nhà ITIMS, người ta có thể dễ dàng nhận thấy ngay điều đó. Chủ đề tôi muốn khai thác ở đây là những khoảng thời gian ngoài giờ làm việc của những ông Tây này.
Có lẽ nổi bật nhất là ông Henk van de Weterink với tính khí hoạt náo đặc biệt. Với dáng người nhỏ nhắn, mái tóc trắng, hoa tai “một mất một còn” ông Henk thường hoà mình tại các quán nước lụp xụp ngoài đường, tán gẫu bằng chân tay và cười phơ phớ với mấy chị chủ quán, mấy bác xe ôm. Người ta cũng thấy ông tập rít thuốc lào để rồi lơ mơ thả khói vào tiếng cười khoái trá của các bạn nhậu xung quanh. Henk là một người đặc biệt tốt bụng. Ông thường rất quan tâm đến đám người nghèo ngoài đường và tìm cách giúp đỡ họ. Có lần ông bị trộm lột mất chiếc kính râm đắt tiền. Vậy mà chẳng hề phàn nàn, ông cười xoà và giải thích rằng, ông cảm thấy vui vì đã đem lại hạnh phúc cho một kẻ khác! Một lần khác ông thuê một chiếc xích lô với giá khá cao nhưng nằng nặc đòi ngồi lái. Thế là bác xích lô nghiễm nhiên trở thành một ông hành khách ngồi chễm trệ trên chính chiếc xe của mình để cho Henk tập lái lòng vòng qua các phố. May thật là may, bác xích lô vừa được tiền vừa tự hào là được Tây phục vụ.
Vào dạo mùa thu năm 2000, ông Henk một lần nữa trở lại Hà nội, cũng vừa dịp anh Chính lấy vợ. Chắc chắn gia đình anh Chính phải cảm ơn Henk lắm vì không có ông, đám cưới anh Chính chắc không thể vui đến thế. Hôm đó hẳn ai cũng rất say. Những chuyện như anh A đòi đưa anh B về nhà (vì anh B không tự đi được) nhưng ngay sau đó thì anh A cứ nhè anh B ra mà trút hết mọi thứ v.v… thì chẳng thiếu để mà kể. Nhưng đáng nhớ hơn cả là chuyện ông Henk đọc diễn văn và chơi harmonica trong bữa tiệc, nói tiếng Nga với bố anh Chính (nói cho đúng ra là nói tiếng Anh với anh V.N. Hùng để anh Hùng dịch sang tiếng Nga cho bố anh Chính nghe và quá trình ngược lại cũng tương tự) và say đến nỗi tưởng con mương xanh xanh đầu làng là một con đường! Sau khi bước xuống mương và bước lên một cách an toàn, ông Henk trở về khách sạn với nguyên bộ quần áo mạ bùn, đánh một giấc ngủ 15 tiếng đến tận ngày hôm sau.
Một điểm mạnh của ông Henk mà các anh em trẻ không thể bỏ qua là ông có một cô con gái mười chín tuổi xinh đẹp như tiên. Trong một lần sang Việt Nam cùng bố, cô gái đã được anh Hồng tặng cho một cỗ áo dài đỏ rực từ đầu đến chân trong một bữa tiệc chia tay tại 122 Mai Hắc Đế. Màu áo của cô từ đấy đã đốt cháy tâm can của nhiều chàng trai trong ITIMS, tôi chẳng biết là những ai, nhưng ai cảm thấy như vậy thì tự biết rồi ! Một lần khác anh em ITIMS dẫn bố con ông Henk đi chơi chùa Thầy. Hang Thầy sâu hun hút và đầy hiểm nguy. Sau khi dắt díu nhau an toàn xuống đáy hang, anh em tây ta đứng nghỉ lấy lại sức. Ai cũng cảm thấy mệt mỏi rã rời. Trong bóng đêm và hơi lạnh ngai ngái của đáy hang, ông Henk bỗng cảm thấy đôi bàn tay ai đó đang lướt nhanh qua lại trên vai mình. Cảm giác mệt mỏi của ông cứ theo thế mà tiêu tan. Điều này làm ông Henk cảm động lắm, coi đó như một biểu hiện chu đáo và hiếu khách điển hình của người Việt Nam. Tuy nhiên, tôi thấy một số người quả quyết rằng đây là một sự nhầm lẫn vì nếu không có bóng tối thì đáng lẽ đôi vai may mắn kia phải là của cô con gái ông Henk kia!
Nếu như Henk van de Weterink là một chuyên gia về xây dựng và hệ thống điện thì Tom Aarnink là một kỹ thuật viên chủ chốt của trường Twente về kỹ thuật phòng sạch và chân không. Tôm có dáng dấp đặc trưng của một người đàn ông Hà lan: cao lớn và vui nhộn. Chỉ sau lần đầu tiên sang Việt Nam, Tôm đã lập tức bị rơi vào hội chứng nghiện Việt nam. Ông thích cái nắng nhiệt đới, cảnh thiên nhiên hoang dã, những đồ thủ công mỹ nghệ tinh xảo và đặc biệt là những món ăn Việt Nam, càng kinh dị càng tốt. Theo chân của anh em trong ITIMS, Tôm đã nếm đủ thứ thịt, từ thịt chó, thịt mèo đến thịt rắn rết. Sau lần đầu tiên nếm thịt chó, Tôm đã phải thú nhận rằng có lẽ con chó nhà ông sẽ khó mà thọ được lâu !
Tôm là một kẻ theo trường phái “TYFN”. Chẳng thế mà ở nhà ông sống với ba cô con gái, một bà vợ và ba con gà mái. Cách đây mấy năm, trong một bữa tiệc nhân ngày 20-11 do ITIMS tổ chức tại nhà hàng Nam Hương ở phố Phan Chu Trinh, khi tiệc đã tàn, ai đấy đều ngà ngà say và sửa soạn ra về, Tôm bỗng ra đứng chặn ở cửa ra vào và tuyên bố rằng những chị em nào muốn về phải hôn Tôm mới được ra khỏi cửa ! Gay go thật. Hồi đó đến quá nửa chị em ITIMS đều chưa chồng, thậm chí chưa có bạn trai. Theo phong tục ở Tây thì chuyện hôn tạm biệt như vậy là chuyện xã giao bình thường, nhưng đối với chị em nhà mình thì đấy quả là một hiện tượng kinh dị động trời. Chị em cười sượng sùng, anh em cười hô hô, dùng dà dùng dằng đến mười lăm phút chẳng ai chịu làm gì, cuối cùng Tôm đành kết thúc trò chơi. Tuy nhiên tôi cam đoan rằng hôm đó nếu chị em nào được tạm biệt Tôm theo lối ấy, sẽ trằn trọc mất ngủ đến cả tuần !
Tôm thích đồ thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Lần nào sang Việt Nam thế nào Tôm cũng phải ra về với vài chiến lợi phẩm. Nhà Tôm là cả một bộ sưu tập về nghệ thuật Việt nam, từ tranh sơn dầu, sơn mài đến các bức tượng gỗ. Ai đến nhà Tôm cũng phải giật mình vì ánh mắt gườm gườm và chiếc mỏ khoằm của một con đại bàng bằng gỗ sải cánh tới gần một thước đứng lò cò trên một viên đá, đang tung cánh như chuẩn bị bổ nhào vào khách. Kỷ vật này do Tôm đã kỳ công đem về hồi năm 2000. Đúng là kỳ công vì không có cách nào khác là phải bê nó trên tay lên máy bay. Nếu chẳng may máy bay có rớt thì chắc con đại bàng đã cứu Tôm thoát nạn. Tôm đã cao, lại đội con chim lên đầu mà luồn lách qua đám hành khách trên máy bay, nên chẳng may nó bị mẻ mất một bên cánh, trông lại càng thêm phần hảo hán. Nhà Tôm còn một cụm vật thể nữa cũng khá ấn tượng là một đàn ếch gỗ. Con nhỏ nhất bằng nắm tay, con to nhất bằng cái nồi cơm điện cỡ năm lít. Con nào cũng có một cái dùi gỗ cắm xuyên qua bụng. Nếu dùng cái dùi ấy mà cọ cọ lên hàng vẩy trên lưng ếch thì chúng sẽ kêu ò ò như thật. Con nhỏ kêu tiếng thanh, con to kêu tiếng trầm, còn con to nhất thì kêu lục khục như tiếng ho của ông lão tám mươi. Con ếch cụ này được nhập đàn trong một lần sang Hà nội gần đây nhất, mà do Tôm thửa riêng ở phố Hàng Hòm chứ chẳng đâu bán cả.
Vào dạo toà nhà ITIMS chưa xây xong, các phòng thí nghiệm của ITIMS còn phải trà trộn vào các cơ sở khác. Hồi đó tôi có nhiệm vụ là dựng hệ VSM tại C9BK, có lẽ vào khoảng mùa hè năm 1996. Bên Hà lan cử một chuyên gia về các hệ đo từ sang giúp đỡ, đó là ông Thys Bolhuis. Chúng tôi làm việc hết một tuần thì xong mọi việc. Còn dư một chủ nhật, tôi đưa Thys đi chơi Tam Cốc – Bích Động. Sau hai giờ ngồi ô tô, chúng tôi bước xuống xe. Chạy ra đón chúng tôi là cả một đám trẻ con bán đủ các thứ, từ hương hoa đến khăn trải bàn thêu, áo thun … Chúng rao hàng đến hoa cả mắt, điếc cả tai. Thys thì thấy lạ và thích lắm nên mua luôn một số thứ. Chúng tôi đi bộ ra bến thuyền, đám bán hàng tiếp tục di chuyển theo, léo nhéo nài nỉ. Khi đến gần bến thuyền thì đám chủ thuyền lại tiếp quản luôn. Bị giằng co giữa đám này một lúc lâu, cuối cùng thì chúng tôi cũng được đẩy lên một chiếc thuyền. Thuyền chạy được một lúc thì cô lái thuyền bỗng nhiên buông lái và lôi trong gầm ra một đống hàng. Thys hoảng hốt nhìn tôi, tôi cũng chịu, đành đánh cái nhìn hoảng hốt sang cô lái thuyền. Cuộc nài nỉ lại bắt đầu và ngày càng trở nên quyết liệt. Cuối cùng Thys đành phải mua một cái khăn bàn gì đó để bịt miệng cô lái thuyền. Lúc đó dường như chuyến du ngoạn mới tạm thời được yên ả.
Khi quay trở lại bến thuyền, bỗng nhiên Thys bị đau bụng, có lẽ do bữa ăn sáng tại nhà hàng Ngũ Ngư Ngự bên hồ Hoàn Kiếm. Tôi dẫn Thys vào một nhà vệ sinh công cộng tư nhân nằm ngay gần bến thuyền. Bây giờ dân mình cũng văn minh thật. Nhà ông chủ xây hẳn một hàng nhà vệ sinh gạch men trắng toát, nước nôi đàng hoàng. Đằng sau nhà vệ sinh là một ao thả cá, phía trước là một vườn cây ăn quả, đúng là một mô hình VAC điển hình! Thys chạy như bay vào một phòng, lập tức lại nhẩy ra ngay, phóng vào phòng bên cạnh, lại lao ra liền. Lúc đó tôi mới chợt hiểu ra là ông chủ thiết kế toàn loại xí xổm, trong khi Tây chỉ quen loại bệt, vì họ hoàn toàn không thể ngồi xổm như ta được! Vậy làm sao bây giờ? Sau ba bốn bận nhảy ra nhảy vào như vậy, cuối cùng thì Thys cũng biến mất sau cánh cửa cuối cùng. Sau một hồi sấm chớp rầm rầm trong đó, Thys trở ra với vẻ mặt mãn nguyện. Tôi chẳng hiểu làm sao ông giải quyết được việc ấy, mà cũng chẳng tiện hỏi. Mặc dù gặp một vài sự cố như vậy, đối với Thys, chuyến đi Việt Nam lần ấy quả thật vô cùng kỳ thú. Người phương Tây luôn thích khám phá và tìm hiểu. Đôi khi những rủi ro nho nhỏ lại trở thành những kỷ niệm thú vị khó quên.
Những câu chuyện tôi kể ra trên đây chỉ là một số thí dụ vui vui mà tôi còn nhớ về một vài trong số rất nhiều ông Tây đã từng làm việc ở ITIMS. Chắc chắn các bạn còn biết những chuyện hay hơn thế nhiều. Sự tiếp xúc giữa ta và Tây luôn là chỗ phát sinh của bao điều thú vị. Qua nhịp cầu hợp tác, chúng ta hoàn toàn có thể hoà nhập được với phương Tây trên lĩnh vực khoa học như sự cân bằng của hai mức Fermi khi hai kim loại tiếp xúc với nhau. Thế nhưng sự khác biệt về văn hoá và văn minh thì luôn tồn tại như sự chênh lệch về thế hoá học giữa các kim loại, tạo nên một nguồn điện cảm hứng bất tận cho sự khám phá và tìm hiểu.
TG: Phan Lê Kim,
Eindhoven, 10-11-2002

