CÁC THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG THỜI GIAN VỪA QUA

Viện Đào tạo Quốc tế về Khoa học Vật liệu (ITIMS) trước đây là Trung tâm Quốc tế Đào tạo về Khoa học Vật liệu (ITIMS) trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, được thành lập ngày 17/12/1992, cách đây tròn 20 năm. Viện ITIMS chính thức chuyển về trường ĐH Bách khoa Hà Nội theo quyết định số 745/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 18/2/2004.

Viện ITIMS là một Viện trong trường ĐH Bách khoa HN, có sứ mạng đào tạo sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ vật liệu điện tử. Trong 20 năm qua, Viện ITIMS đã triển khai nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học và công nghệ vật liệu, đặc biệt tập trung mạnh vào vật liệu và linh kiện có cấu trúc micro và nano. Các hướng nghiên cứu của Viện ITIMS là mới và hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển, định hướng ưu tiên của đất nước và khả năng hội nhập quốc tế cũng như phù hợp với xu thế phát triển của một cơ sở KHCN hiện đại, thể hiện được quan điểm đầu tư đón đầu KHCN micro-nano.

Hiện nay mô hình nghiên cứu của Viện ITIMS được tổ chức theo hai phòng thí nghiệm (PTN) gồm: PTN Công nghệ vi hệ thống và Cảm biến; PTN Vật liệu nano từ và Siêu dẫn nhiệt độ cao. Dưới hai PTN là các nhóm nghiên cứu bao gồm: Nhóm Vật liệu từ nano, Spintronics, Vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao, Cảm biến khí, Cảm biến sinh học và điện hóa, Vật liệu và linh kiện quang điện tử; Vật liệu tích trữ và chuyển đổi năng lượng, Linh kiện vi cơ điện tử (MEMS & NEMS). Công tác nghiên cứu khoa học của các PTN luôn gắn chặt với công tác đào tạo sau đại học của Viện. Viện ITIMS luôn cố gắng thực hiện tốt sự hợp tác nghiên cứu với các cơ sở nghiên cứu KHCN ở trong và ngoài nước. Trong công tác nghiên cứu khoa học, các PTN đã tham gia phối hợp, cộng tác với nhiều đơn vị trong nước và nhiều PTN nước ngoài. Các PTN đã trở thành phòng thí nghiệm mở, mang lại lợi ích chung cho Viện và các PTN phối hợp. Đặc biệt, trong 20 năm qua, Viện ITIMS luôn tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh nhằm nuôi dưỡng các nhà khoa học trẻ xuất sắc và triển khai nghiên cứu phát triển các công nghệ cao. Sản phẩm khoa học trực tiếp của các nhóm nghiên cứu này là các bài báo khoa học, các phát minh sáng chế, các sản phẩm chế thử ở trình độ quốc tế, nhưng trong đó đặc biệt sẽ có các yếu tố nâng cao năng lực cạnh tranh về KHCN của nước nhà, tạo ra các sản phẩm mới, chuyển giao tri thức và công nghệ, góp phần tăng trưởng GDP và phát triển kinh tế của Việt Nam. Đây được xem là một giải pháp phù hợp cho sự phát triển KHCN của nước ta trong trong giai đoạn tới.

Theo thông lệ quốc tế, một trong những tiêu chí để đánh giá năng suất khoa học của một Viện nghiên cứu, người ta thường đưa vào hai chỉ tiêu là số lượng bài báo khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt (peer reviewed journals), và số lần trích dẫn (citations index) của những bài báo khoa học. Chất lượng các công trình nghiên cứu được ước tính dựa vào chỉ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor) và số lần trích dẫn. Một công trình nghiên cứu được cho là có chất lượng, có khả năng gây ảnh hưởng trong chuyên ngành sẽ được nhiều đồng nghiệp trên thế giới trích dẫn. Thông thường, một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là “có ảnh hưởng”. Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên. Liên quan đến năng lực nghiên cứu của Viện ITIMS, qua 20 năm xây dựng và phát triển, các thế hệ thầy và trò Viện ITIMS đã không ngừng phấn đầu nâng cao năng lực NCKH của Viện nhằm tiến đến đẳng cấp quốc tế. Cho đến nay, Viện ITIMS đã phần nào khẳng định được đẳng cấp quốc tế trong NCKH về lĩnh vực vật liệu điện tử, điều này thể hiện qua các công trình công bố quốc tế được sếp hạng ISI trong 5 năm gần đây của thầy và trò Viện ITIMS. Số công trình ISI tăng đều theo từng năm trong giai đoạn 2008-2012 (tăng từ 5 bài đến trên 20 bài). Nhiều công trình nghiên cứu thực hiện hoàn toàn bằng nội lực của ITIMS (tác giả đầu mối là người ITIMS) đã được đăng trên nhiều tạp chí quốc thế có uy tín như Applied Physics Letters (Impact factor 2011: 3.84), Sensors and Actuators B (Impact factor 2011: 3.89), Journal of Hazardous Materials (Impact factor 2011: 4.17). Ngoài ra, theo thời gian, số công trình ISI của Viện ITIMS có chỉ số ảnh hưởng ngày càng cao (nhiều công trình có chỉ số ảnh hưởng lớn hơn 3).

Chất lượng công trình ISI của Viện ITIMS cũng được thể hiện qua số lần trích dẫn của các đồng nghiếp quốc tế. Như công trình của nhóm cảm biến khí (http://www.isensors.vn/publications) đăng trên tạp chí Sensors and Actuators B năm 2008 cho đến nay đã được trích dẫn hơn 40 lần và nhiều công trình đạt số lần trích dẫn trên 10. Nhiều nhà nghiên cứu trẻ đã đạt chỉ số h-index trên 5. Theo số liệu thống kê trên Scopus (www.scopus.com), Viện ITIMS có hai thành viên là TS. Nguyễn Đức Hoà và PGS. Nguyễn Văn Hiếu đạt chỉ số h- index là 11 (có 11 bài báo được trích dẫn trên 11 lần). Đây là một trong những thành quả quan trọng của công cuộc xậy dựng các nhóm nghiên cứu mạnh ở Viện ITIMS trong 20 năm qua. Điều đặc biệt, tuyệt đại đa số các công trình ISI nói trên điều là kết quả khoa học chung của cả các thầy hướng dẫn, học viên cao học và nghiên cứu sinh Viện ITIMS. Đây có thể coi là một thành công quan trọng trong việc tích hợp giữa NCKH và đào tạo sau đại học.

Trong giai đoạn 2008-2012, Viện ITIMS đã hoàn thành một số lượng lớn đề tài các cấp. Tiêu biểu là trong 5 năm qua, Viện ITIMS đã hoàn thành 03 đề tài trọng điểm cấp nhà nước thuộc chương trình “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ vật liệu mới; KC-02”. Viện ITIMS cũng đã và đang hoàn thành nhiều đề tài hợp tác Quốc tế như đề tài VLIR-HUT, đề tài nghị định thư Việt- Ý. Đặc biệt các tiến sỹ trẻ đã và đang chủ trì và đồng chủ trì một số lượng lớn đề tài nghiên cứu cơ bản tài trợ bởi Quỹ Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted), thể loại đề tài này yêu cầu công bố ít nhất 02 bài ISI. Đây một trong những định hướng nghiên cứu chủ đạo của Viện ITIMS trong thời gia qua. Trong giai đoạn 2009-2012, Viện ITIMS đã hoàn thành xuất sắc 02 đề tài và đang chủ trì 14 đề tài Nafosted. Qua đó cho thấy nghiên cứu cơ bản là tiềm năng, thế mạnh của Viện ITIMS và là tiền đề quan trọng cho việc tích hợp thành công mô hình NCKH với đào tạo sau đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho đất nước. Cũng trong giai đoạn này, thầy và trò Viện ITIMS cũng đã tổ chức và đồng tổ chức thành công vài hội nghị Quốc tế tại Việt Nam cũng như ở nước ngoài.

Những nét chính và một số thành tựu đạt được trong NCKH trong 5 năm qua phần nào cho thấy Viện ITIMS đã khẳng vị thế là một Viện nghiên cứu đang tiệm cận với đẳng cấp quốc tế, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của Trường ĐH Bách khoa HN nói riêng, của Việt Nam nói chung và phát triển Hệ thống Giáo dục Đại học Việt Nam.

Tháng 11/2012
TG: PGS. TS. Nguyễn Văn Hiếu